Hải Phòng: Phát triển giáo dục nghề nghiệp bám sát nhu cầu của thị trường lao động, gắn kết với an sinh xã hội và phát triển bền vững

Đoàn Thị Liêm

UBND thành phố Hải Phòng vừa ban hành Văn bản số 233/KH-UBND thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp thành phố Hải Phòng giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Kế hoạch đặt ra yêu cầu phát triển giáo dục nghề nghiệp (GDNN) phải bám sát nhu cầu của thị trường lao động gắn kết với việc làm thỏa đáng, an sinh xã hội và phát triển bền vững, bao trùm; phát huy tối đa năng lực, phẩm chất của người học; thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo.

img-2603-1664888930.JPG
Học viên học pha chế đồ uống tại Trung tâm thực hành Bar - Trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng

Kế hoạch hướng đến mục tiêu nhằm phát triển nhanh GDNN thành phố nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường lao động, của người dân và yêu cầu ngày càng cao về số lượng, cơ cấu, chất lượng nhân lực có kỹ năng nghề, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng trong từng giai đoạn.

Theo nội dung Kế hoạch, mục tiêu đến năm 2025, phải bảo đảm quy mô, cơ cấu ngành, nghề đào tạo phù hợp với cơ cấu kinh tế của thành phố. Chất lượng đào tạo của các cơ sở GDNN trên địa bàn thành phố được nâng cao, trong đó chất lượng đào tạo của một số trường cao đẳng tiếp cận trình độ các nước ASEAN-4, một số nghề tiếp cận trình độ các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ từ 3 tháng trở lên đạt 40%.

Một số ngành, nghề cần ưu tiên phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực của thành phố: Logistics, Điện công nghiệp, Điện tử công nghiệp, Cơ khí chế tạo, Công nghệ ô tô, Công nghệ thông tin (ứng dụng phần mềm)…

Đến năm 2030, tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả GDNN để đáp ứng nhu cầu nhân lực có kỹ năng nghề cho thành phố và đất nước; chủ động tham gia vào thị trường đào tạo nhân lực quốc tế; một số trường tiếp cận trình độ các nước trong khu vực ASEAN-4, trong đó một số nghề tiếp cận trình độ các nước phát triển trong nhóm G20; góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ từ 3 tháng trở lên đạt 45%.

Một số ngành, nghề cần ưu tiên phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực của thành phố: Quản trị khách sạn, Quản trị nhà hàng, Nghiệp vụ nhà hàng, Khai thác vận tải đường biển…

Tầm nhìn đến năm 2045, GDNN thành phố phát triển, đáp ứng nhu cầu nhân lực có kỹ năng nghề cao của thị trường lao động; phấn đấu trở thành một trong những thành phố phát triển hàng đầu cả nước về GDNN, bắt kịp trình độ tiên tiến của thế giới, có năng lực cạnh tranh vượt trội ở một số lĩnh vực, ngành, nghề đào tạo.

Để đạt được các mục tiêu trên, cần thực hiện đồng bộ 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, trong đó, “Đẩy nhanh chuyển đổi số, hiện đại hóa cơ sở vật chất thiết bị và đổi mới chương trình, phương thức đào tạo” và “Phát triển đội ngũ nhà giáo, nghệ nhân, chuyên gia, người dạy nghề và cán bộ quản lý trong GDNN” được xác định là những giải pháp đột phá.

Công tác chuyển đổi số được tập trung vào một số nhiệm vụ chính: chuyển đổi số hoạt động quản lý Nhà nước và quản trị các cơ sở GDNN; phát triển năng lực số cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý GDNN, đổi mới phương pháp dạy và học; phát triển hạ tầng, nền tảng số, thiết bị, kho học liệu số; xây dựng và phát triển chương trình, nội dung đào tạo các cấp trình độ GDNN phù hợp yêu cầu chuyển đổi số; tăng cường đầu tư nâng cấp các phòng thí nghiệm, xưởng thực hành ảo, thiết bị ảo, thiết bị tăng cường ở những ngành, nghề phù hợp trong các cơ sở GDNN.

Hiện đại hóa cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo của cơ sở GDNN tiếp cận với công nghệ sản xuất của thị trường, của doanh nghiệp, định hướng phân tầng chất lượng và đặc thù các ngành, nghề đào tạo. Tăng cường gắn kết với doanh nghiệp để khai thác, sử dụng thiết bị đào tạo tại doanh nghiệp. Phát triển các mô hình “nhà trường thông minh, hiện đại”, “nhà trường xanh”.

img-2604-1664889014.JPG
Học viên với  thành quả  tại Trung tâm thực hành làm bánh - Trường Cao đẳng Du lịch Hải Phòng

Về đổi mới chương trình, phương thức đào tạo: triển khai rà soát, xây dựng, chỉnh sửa chương trình, giáo trình cho phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường và doanh nghiệp; đổi mới quy trình, phương pháp phát triển chương trình đào tạo theo hướng mở, linh hoạt, liên thông dựa trên mô đun, tín chỉ và các quy đổi tương đương, đáp ứng chuẩn đầu ra và khối lượng học tập tối thiểu. Phát triển chương trình đào tạo các ngành, nghề mới, ngành, nghề công nghệ thông tin, ứng dụng công nghệ mới, kỹ năng tương lai và các chương trình đào tạo cho người lao động trong các doanh nghiệp theo hình thức vừa làm vừa học phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. Khuyến khích, tạo điều kiện phát triển các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài, các chương trình đào tạo cho người nước ngoài tại Việt Nam…

Bên cạnh đó, xây dựng đội ngũ nhà giáo GDNN theo hướng chuẩn hóa, bảo đảm về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chú trọng kinh nghiệm thực tiễn và năng lực nghề nghiệp trong kỷ nguyên số, phương pháp dạy học hiện đại, tích hợp các kỹ năng cốt lõi mà thế kỷ XXI đòi hỏi cùng kỹ năng mềm, kỹ năng số, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; trọng tâm là phát triển đội ngũ nhà giáo giảng dạy các ngành, nghề trọng điểm, có năng lực chuyên môn và kỹ năng nghề đạt chuẩn khu vực và quốc tế. Chuẩn hóa đội ngũ cán bộ quản lý cơ sở GDNN theo hướng chú trọng kỹ năng quản lý - quản trị hiện đại, đổi mới sáng tạo, kỹ năng số, trình độ ngoại ngữ. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm định, bảo đảm chất lượng…

Mặt khác, đẩy mạnh hiệu quả hợp tác giữa Nhà nước, Nhà trường, Nhà doanh nghiệp, người sử dụng lao động, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp trong các hoạt động GDNN trên cơ sở hài hòa lợi ích và trách nhiệm xã hội. - Tiếp tục xây dựng các mô hình gắn kết GDNN với doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất - kinh doanh và thị trường lao động theo từng địa phương, phù hợp với từng nhóm đối tượng…

Anh Thư

Bạn đọc đặt Tạp chí Nhân đạo dài hạn vui lòng để lại thông tin